Loading

x

Trang này hiện đang trong quá trình xây dựng

Xin vui lòng quay trở lại vào lúc khác

Tin Tức & Sự Kiện

Trang chủTin tứcBáo chí & Truyền thôngThị trường chứng khoán nhìn từ khu vực về Việt Nam – Cơ hội hậu đại dịch

Thị trường chứng khoán nhìn từ khu vực về Việt Nam – Cơ hội hậu đại dịch

09/06/2020 - 18:42

Ngày 9/6/2020 vừa qua, Yuanta Việt Nam đã tổ chức buổi Hội Thảo Trực Tuyến “Thị trường chứng khoán nhìn từ khu vực về Việt Nam – Cơ hội hậu đại dịch” nhằm giúp cho các nhà đầu tư đọc vị được thị trường và nắm bắt được những cơ hội tích cực khi thị trường phục hồi sau dịch Covid-19. Buổi hội thảo trực tuyến có sự tham gia của Tiến sĩ Yen, Chen Hui – Giám Đốc Chiến Lược Yuanta Investment Consulting, Chuyên gia Nguyễn Thế Minh – Giám Đốc Bộ Phận Phân Tích Khối Khách Hàng Cá Nhân Yuanta Việt Nam và Thạc sĩ Trương Quang Bình – Phó Giám Đốc Bộ Phận Phân Tích Khối Khách Hàng Tổ Chức Yuanta Việt Nam.

Buổi hội thảo đã mang đến cho người xem bức tranh toàn cảnh về môi trường kinh tế vĩ mô toàn cầu và dòng tiền của nhà đầu tư tổ chức sau dịch Covid-19. So sánh bản chất của 2 cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 và hiện tại, cách thức quản trị khủng hoảng dưới góc nhìn nhà đầu tư dựa trên những chỉ báo quan trọng, dòng tiền của nhà đầu tư tổ chức (Châu Á, Thị trường mới nổi/Cận biên và Việt Nam). Đồng thời, các chuyên gia cũng đưa ra các dự báo về cuộc khủng hoảng hiện tại và những biện pháp của Đài Loan để hỗ trợ các công ty, nhà đầu tư và các chính sách có thể áp dụng cho Việt Nam.

Sự khác biệt giữa cuộc khủng hoảng năm 2008 và hiện tại

Tiến sĩ Yen, Chen Hui cho rằng cuộc khủng hoảng năm 2020 về cơ bản có sự khác biệt với cuộc khủng hoảng năm 2008. Ông cho rằng cú sốc Covid-19 là một “thảm họa tự nhiên” trong khi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu (GFC) năm 2008 là sự “mất cân bằng trong ngành tài chính”. Cuộc khủng hoảng năm 2020 có thể dự báo được, đây không phải là suy thoái bảng cân đối kế toán như năm 2008 mà là khủng hoảng thanh khoản kéo dài cuối cùng gây áp lực lên bảng cân đối kế toán. Vì thế, trong cuộc khủng hoảng năm 2020 các doanh nghiệp nhỏ sẽ bị ảnh hưởng nặng hơn các doanh nghiệp lớn.

Tuy nhiên, 2 cuộc khủng hoảng có một điểm chung là chính sách cứu hộ phụ thuộc quá nhiều vào ngân hàng trung ương, vì vậy có thể dự đoán rằng tương lai sẽ là một môi trường lãi suất thấp hoặc bằng không. Một điểm tương đồng khác là sự bất bình đẳng giữa người giàu và người nghèo sẽ ngày càng mở rộng, do đó chủ nghĩa dân túy sẽ tái xuất hiện.

Rủi ro thanh khoản của các nền kinh tế phát triển đã được cải thiện đáng kể, nhưng vẫn chưa trở lại bình thường. Chênh lệch lợi suất của trái phiếu lãi suất cao và trái phiếu thị trường mới nổi chỉ hồi phục một phần do tín dụng suy yếu vì kinh tế đình trệ. Trong đợt bán tháo Covid-19, các thị trường mới nổi đã chứng kiến dòng vốn bị rút nghiêm trọng nhất kể từ năm 2008, tuy nhiên dữ liệu cho thấy dòng vốn chảy ra khỏi thị trường mới nổi đã ổn định ở thời điểm hiện tại.

Kinh tế toàn cầu 90% ở trạng thái “Bình thường mới”: tăng trưởng yếu thời hậu đại dịch

Theo Tiến sĩ Yen, Chen Hui đại dịch Covid-19 có 4 giai đoạn. Giai đoạn 1 các hoạt động kinh tế dừng đột ngột dẫn đến thiệt hại kinh tế và doanh nghiệp, từ đó gây ra sự truyền nhiễm tài chính và vòng phản hồi (giai đoạn 2), mất tương thích tài chính, chất lượng cân đối kế toán giảm và khủng hoảng thanh khoản. Giai đoạn 3 là giai đoạn hình thành đáy, dựa trên các chính sách kích thích của chính phủ để tăng tốc phục hồi. Cuộc khủng hoảng sẽ gây ra khủng hoảng lâu dài (giai đoạn 4) đến đầu tư và toàn cầu hóa như tái cấu trúc chuỗi cung ứng (tích hợp theo chiều dọc, đa dạng hóa hoạt động sản xuất), tăng cường kiểm soát nhập cư và du lịch.

Hiện tại đang trong giai đoạn 3 khi các quốc gia dần dần gỡ bỏ phong tỏa, bây giờ là thời điểm quan trọng để xác minh 2 vấn đề: sẽ có một làn sóng thứ 2 và chúng ta sẽ có được sự phục hồi hình chữ V. Trong dài hạn, Covid-19 sẽ ảnh hưởng đến nền các nền kinh tế Đông Á thông qua các kênh “tài chính” và kênh “thực”. Một số quốc gia Đông Á có mối liên kết phía trước cao hơn chuỗi giá trị toàn cầu, tức là xuất khẩu phụ thuộc đầu vào nhập khẩu, các quốc gia này dễ bị sốc cung. Trong khi đó, những quốc gia có liên kết phía sau cao hơn chuỗi giá trị toàn cầu thì xuất khẩu của họ là đầu vào cho sản xuất của các quốc gia khác, các quốc gia này dễ bị sốc cầu. Nợ cao, nợ nước ngoài và nợ ngoại tệ có thể gây lo ngại cho một số quốc gia Đông Á và Việt Nam cũng khá đáng ngại.

Tuy nhiên, ông cho rằng Việt Nam có thể hồi phục nhanh chóng nhờ các gói hỗ trợ cho các doanh nghiệp khó khăn tương tự như Đài Loan. Việc hỗ trợ các doanh nghiệp sống sót sẽ giảm số vụ phá sản và tác hại từ việc đóng cửa doanh nghiệp. Điều này đảm bảo sự hồi phục nhanh chóng của các hoạt động kinh tế hậu đại dịch.

Cơ hội tìm kiếm cổ phiếu trong dịch và hậu dịch Covid-19

Phân tích về thị trường và cơ hội đầu tư hậu Covid-19, ông Nguyễn Thế Minh – Giám Đốc Phân Tích Yuanta Việt Nam cho rằng thị trường Việt Nam được định giá thấp nhất và tăng trưởng cao nhất trong khu vực, đồng thời chỉ ra một số cơ hội đầu tư hậu Covid-19. Trung Quốc sẽ đóng vị trí trọng yếu trong chuỗi cung ứng toàn cầu nhưng xu hướng dịch chuyển sang các nước Đông Nam Á sẽ được đẩy nhanh nhằm giảm thiểu rủi ro phụ thuộc vào Trung Quốc.

Trong ngắn hạn, Trung Quốc vẫn nắm giữ nhiều lợi thế nhờ chuỗi cung ứng hoàn thiện, cơ sở hạ tầng mạnh mẽ và trình độ quản trị tốt trong khi các quốc gia Đông Nam Á và Nam Á sẽ phải tiếp tục đầu tư mạnh về hạ tầng và nguồn nhân lực có trình độ nhằm thu hẹp khoảng cách với Trung Quốc. Việt Nam sẽ tiếp tục là một trong những quốc gia được hưởng lợi nhiều nhất từ xu hướng dịch chuyển này, tuy nhiên sự dịch chuyển vẫn chủ yếu là những ngành có giá trị gia tăng thấp như dệt may, da giày hay lắp ráp linh kiện điện tử.

Vốn FDI đăng ký và điều chỉnh tiếp tục tăng trong 4 tháng đầu năm cùng với giá thuê đất khu công nghiệp thiết lập mặt bằng mới bất chấp dịch Covid-19 là minh chứng rõ nét cho sự hấp dẫn của Việt Nam đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Thêm vào đó, thành công trong việc kiểm soát dịch Covid-19 sẽ là điểm cộng của Việt Nam trong mắt các nhà đầu tư nước ngoài. Các doanh nghiệp được hưởng lợi từ xu hướng dịch chuyển cơ sở sản xuất từ Trung Quốc bao gồm: PHR, NTC, KBC, SZC.

Việc thúc đẩy đầu tư công có thể là biện pháp hữu hiệu để kích thích kinh tế phục hồi sau dịch Covid-19, cũng như nâng cấp cơ sở hạ tầng của Việt Nam. Chính phủ Việt Nam dự chi hơn 700 nghìn tỷ đồng (hơn 30 tỷ USD) cho đầu tư công trong năm 2020, số vốn này gấp 2.2 lần số vốn thực giải ngân trong năm 2020. Các doanh nghiệp có thể hưởng lợi từ chính sách thúc đẩy đầu tư công bao gồm: HPG, KSB, DHA, CTI, FCN, C4G, CII.

Hiệp định EVFTA dự kiến sẽ được thông qua trong tháng 07/2020. Ngay khi Hiệp định có hiệu lực, EU sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với khoảng 85.6% số dòng thuế, tương đương 70.3% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU. Các doanh nghiệp có thể hưởng lợi từ EVFTA bao gồm: TNG, MSH, CMX, MPC, VHC, FMC.

Cuộc cách mạng công nghệ sẽ được đẩy nhanh do sức ép từ dịch Covid- 19. Xu hướng công nghệ số 4.0 và số hóa quản trị doanh nghiệp dự báo sẽ được gia tăng mạnh mẽ hơn bởi sức ép của dịch bệnh Covid-19 và đặc biệt là sau khi nền kinh tế dần ổn định trở lại. Doanh nghiệp có thể hưởng lợi từ cuộc cách mạng công nghệ là FPT.

Cũng trong buổi hội thảo, Thạc sĩ Trương Quang Bình – Phó Giám Đốc Phân Tích Yuanta Việt Nam cho rằng Ngành điện hưởng lợi 2 lần từ dịch chuyển sản xuất và nguyên liệu đầu vào giảm. Việc thiếu hụt điện năng đạt 48 tỷ kWh vào 2025 với nhu cầu điện tăng trưởng 11%/năm, đồng thời ngành điện sẽ hưởng lợi từ xu hướng dịch chuyển sản xuất ra khỏi Trung Quốc, tăng cường đầu tư vào Việt Nam, khi đó nhu cầu điện sản xuất cũng sẽ tăng. Ngành điện cũng ghi nhận nhiều chính sách ưu đãi cho năng lượng sạch, chi phí đầu tư năng lượng tái tạo ngày càng rẻ, tiệm cận năng lượng truyền thống. Doanh nghiệp có định giá hấp dẫn bao gồm: POW, NT2, PC1.

Chia sẻ